Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc(UNESCO) công nhận ngày 02/12/2004 về các giá trị sinh thái, nhân văn và đa dạng sinh học tiêu biểu cùng với nhiều tiềm năng phát triển bền vững. Khu DTSQ này có tổng diện tích 26.241ha(17.041ha phần đảo và 9.200ha phần biển), bao gồm hầu hết 367 hòn đảo đá vôi lớn nhỏ thuộc quần đảo Cát Bà ở huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Cách trung tâm thành phố Hải Phòng 50km về phía Đông, cách Hà Nội 150km về phía Đông Nam, nằm cạnh di sản thế giới vịnh Hạ Long. Khu DTSQ Cát Bà với đầy đủ 3 chức năng: Lõi(8.500ha); Đệm(7.741ha); Chuyển tiếp(10.000ha) đã được ghi nhận là Phòng thí nghiệm học tập về sự phát triển bền vững đầu tiên trên thế giới(UNESCO 2010).
Khu DTSQ quần đảo Cát Bà hội tụ các hệ sinh thái tiêu biểu của Việt Nam như rừng nguyên sinh lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên quần đảo đá vôi, rừng ngập nước trên thung núi đá vôi, rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm cỏ biển, hệ thống các hang động, tùng áng. Những hệ sinh thái này trải khắp địa hình đa dạng và phức tạp của quần đảo Cát Bà, tiêu biểu như khu vực trung tâm Vườn quốc gia Cát Bà, Ao Ếch, Đồng Công, Vạn Hà, Tai Kéo và các khu vực khác tại vịnh Lan Hạ.
Khu DTSQ Cát Bà có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế về các giá trị đa dạng sinh học, với 3.154 loài động, thực vật, trong đó có tới 60 loài thực vật và 22 loài động vật quí hiếm, đặc hữu có tên trong sách đỏ Việt Nam( trong danh lục đỏ thế giới có 29 loài thực vật và 7 loài động vật). Các loài đặc hữu, hiếm quí và đang bị de dọa tiêu biểu gồm có, về động vật: Voọc Cát Bà(Voọc đầu vàng); Sơn dương( con Than), thạch sùng mí Cát Bà, về thực vật: Tuế Hạ Long, Chò Đãi, Kim Giao, Lát Hoa.
Các loài sinh vật trên cạn: 1.841 loài( 280 loài động vật xương sống jvaf 1.561 loài thực vật cạn), bao gồm: 53 loài thú, 160 loài chim, 46 loài bò sát, 21 loài ếch nhái và 1.561 loài thực vật bậc cao thuộc 842 chi và 186 họ. Sinh vật biển: 1.313 loài( 1.061 loài động vật và 297 loài thực vật biển), trong đó: 196 loài cá, 193 loài san hô, 538 loài động vật đáy và 89 loài động vật phù du; 23 loài thực vật ngập mặn, 75 loài rong biển và 199 loài thực vật phù du. Nhiều loài có gia trị cao như: Trai ngọc, Vẹm xanh, Tu hài, Vích, con Sút, ốc Đụn đực, cá Ngựa gai, Sam đuôi tam giác, Đồi mồi. Hệ sinh thái san hô có giá trị cao không chỉ về đa dạng sinh học mà còn rất có giá trị về du lịch.
Cát Bà – Nền văn minh ngàn năm
Quần đảo Cát Bà điển hình cho cộng đồng dân cư miền biển đảo Bắc Bộ, nơi những người Việt cổ đầu tiên đi theo mép biển kiếm tìm kế sinh nhai và dần tập hợp, đoàn tụ lại qua các biến cố thiên tai và lịch sử để rồi hình thành nên nền móng của cộng đồng dân cư Cát Bà ngày nay.
Đảo Cát Bà là một vùng giàu có về các giá trị khảo cổ học và lịch sử. Những nghiên cứu bước đầu đã xác định rằng đảo Cát Bà đã được con người chiếm lĩnh từ rất xa xưa, có những di tích đánh dấu các mốc phát triển quan trọng của con người thời cổ.
Đảo Cát Bà đã từng là nơi trú ngụ lí tưởng của con người kể từ thời hòn đảo này còn dính liền với lục địa( cách đây khoảng 18.000 năm). Sự có mặt của các di chỉ ngoài trời trên đảo Cát Bà chứng tỏ chủ nhân của hòn đảo này có một thời đã cư trú lâu dài trên bờ biển Cát Bà, khai thác thức ăn rừng và suối nước ngọt.
Cát Bà hiện có 77 di chỉ khảo cổ được phát hiện và khảo sát. Di chỉ nổi tiếng nhất phải nói đến là Cái Bèo(có niên đại 6.400 năm cách ngày nay), thuộc thị trấn Cát Bà, được M.Colami phát hiện và khai quật lần đầu năm 1938. Từ đó đã có thêm 6 lần khai quật trong các năm từ 1972 đến 2006. Tiếp đến là hang Đá Hoa ở trung tâm xã Gia Luận, được khai quật năm 1997, phát hiện 2 răng đười ươi hóa thạch, răng nhím, hươu, tê giác hóa thạch. Các di chỉ có giá trị khác: Cát Đồn, Tùng Gôi, miếu gôi, Làng Cũ, thành nhà Mạc, Ao cối, Bãi bến, Đồng công, Giếng nhái, các hang chuồng dê, chuồng bò, Hang dơi, áng Mả, Eo bùa, Tùng bồ. Các lễ hội truyền thống lớn như hội đua thuyền, ngựa gỗ, đền các bà vv.